Vespa cổ nói riêng và Vespa nói chung là một dòng xe được khá nhiều ưu thích vì vẻ đẹp sang trọng, tinh tế và mang đậm phong cách châu Âu. Ra đời từ cách đây 70 năm, những chiếc Vespa cổ đã phần nào khiến cho lịch sử Piaggio trở nên phong phú hơn. Dưới đây là các dòng xe Vespa cổ đã làm nên điều đó.

Mẫu Acma GS ra đời từ những năm 1953 – 1957. Đây là đời Vespa đầu tiên của hãng Piaggio. Hiện nay mẫu xe này đã bị ngừng sản xuất nên được coi là hàng hiếm đối với dân sưu tập xe. Các mẫu Acma GS có trên thị trường cũng chỉ được đếm trên đầu ngón tay mà thôi. Chính vì vậy, có thể nói Vespa Acma GS là một bảo vật vô giá đối với dân sưu tập xe. Được biết Acma GS là một mẫu xe đua với phần sườn được thiết kế có độ cong giúp việc trượt gió tốt hơn.
Ngoài cái tên Acma GS, chiếc xe này còn được nhiều người đặt cho biệt danh “ba số mổ bụng”. Tại sao lại có biệt danh như vậy? Theo tìm hiểu, có biệt danh này là do chiếc xe này chỉ có 3 số và dưới yên trước có một nắp mở ra có thể thấy bình xăng.
Sau thế hệ Acma GS, Piaggio đã phát triển thêm dòng xe Standard hay còn có một tên gọi khác là Vespa 150. Chiếc xe này có mặt trên thị trường từ năm 1958 – 1963 sau khi Piaggio quyết định ngừng sản xuất Acma GS. Mẫu Standard được đánh giá là mẫu xe đưa dòng scooter sang một trang mới.

Standard là sự kết hợp hoàn hảo giữa phiên bản phổ thông và phiên bản trình diễn. Nó có thể nói là kết tinh tinh tuý những ưu điểm từ trước đến nay của Piaggio. Cụ thể, thay vì sử dụng động cơ piston-ported như cũ, mẫu xe này đã sử dụng động cơ rotary valve. Động cơ rotary valve đã tự chứng minh tính ưu việt của bản thân khi sau gần 50 năm, Piaggio vẫn ứng dụng động cơ này cho đời PX 2005.
Ban đầu, Standard vẫn sử dụng hộp số 3 cấp nhưng những đời xe trước nhưng sau này đã được cải tiến thành hộp số 4 cấp. Hệ thống phanh 1 cọc cũng đã được thay thế bằng hệ thống phanh 2 cọc. Thân xe, đầu đèn và cốp cũng đã được thiết kế lại sao cho mềm mại hơn. Máy móc, động cơ của xe khá bền và thiết kế vẫn được sử dụng cho đến thời điểm hiện tại. Phần yên xe được thiết kế dài hơn, bánh xe cũng được làm lớn hơn. Tính đến nay, Piaggio vẫn luôn tự hào rằng Standard là mẫu xe ưng ý nhất của mình.
Được biết, Piaggio sản xuất Standard với hai loại dung tích xi-lanh khác nhau đó là 125cc và 150cc. Khối động cơ cơ này cho công suất 8CV/7.500 rpm. Khá may mắn, Vespa Standard được nhập khá nhiều về Việt Nam. Ở Việt Nam, xe có dung tích 150cc được nhập về nhiều hơn nên cái tên Vespa 150 cũng vì thế mà ra đời. Do xuất hiện khá nhiều nên nếu ưa thích kiểu dáng của chiếc xe này thì việc sở hữu nó là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

Gọn gàng nhưng vẫn giữ được sự đường bệ và sẵn sàng bùng nổ bất cứ lúc nào chính là những đặc điểm của chiếc Vespa Sprint. Với việc hệ thống xi-lanh được nâng lên thành 3 cửa cùng bánh 10 inch đã khiến tốc độ của xe được cải thiện đáng kể. Được biết mẫu xe này được tung ra thị trường vào năm 1965 và thời gian tồn tại của nó dài hơn so với những mẫu trước đó. Cụ thể, nó đã tồn tại được hơn 20 năm trên thị trường xe máy. Tính đến năm 1980, dòng xe này vẫn được sản xuất và có hơn 2 triệu xe đã được xuất xưởng. Có lẽ, chính bởi sự sang trọng cùng những tính năng sử dụng mà nó đem lại nên nó đã được đặt cho biệt danh là “salon bay” – nghĩa là khẳng định cho sự thành đạt.
Cuối thập kỷ 60, dòng xe này cũng đã du nhập vào Việt Nam. Khi mới xuất hiện, chiếc xe này được coi là thước đo nhằm cân đo đong đếm về sự sang trọng của chủ xe. Những người sở hữu chiếc xe này thường là những quan chức cao cấp của chính quyền cũng như quan chức nước ngoài. Bởi vậy, Sprint lúc bấy giờ là niềm mơ ước của khá nhiều thanh niên.

Dòng Super là đời sau của dòng Standard và Sprint. Nó được ra đời vào năm 1966. Dòng xe này vẫn giữ nguyên thiết kế con ong truyền thống nhưng lại có một vài thay đổi nho nhỏ. Cụ thể, thay vì dạng bo tròn, nó lại có những đường nét vuông vắn ở một vài chi tiết như đầu đèn, cốp, vè… Bên cạnh đó, mẫu xe này cũng được nâng cấp bộ lửa cùng nhiều chi tiết khác để khiến xe vận hành trơn tru hơn. Với nhiều đặc điểm mới về hình dáng, dòng xe này còn được biết đến với cái tên “siêu ong”.

Mẫu Vespa 125 Primavera được tung ra thị trường xe vào năm 1967 với kiểu dáng khoẻ khoắn, năng động, đi kèm với đó là động cơ êm ái. Điểm đặc biệt của mẫu xe này đó là phần khung xe dài hơn cùng yên đôi nên khiến người ngồi thoải mái hơn, đặc biệt là người ngồi sau. Có lẽ, chính vì sự thay đổi này khiến nó bán ra doanh số cực lớn dù chỉ mới được tung ra thị trường.

Có khá nhiều địa chỉ bạn có thể đến và mua chiếc Vespa cổ cho riêng mình. Darwin Motors sẽ giới thiệu cho các bạn một vài địa chỉ bán Vespa cổ uy tín trên địa bàn Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Cụ thể:
Với một vài thông tin về các dòng xe Vespa cổ kể trên hy vọng đã giúp thoả mãn về dòng xe này. Chúc các bạn mua được chiếc Vespa cổ ưng ý!
Là một dòng xe đến từ kinh đô hoa lệ Paris, xe Mobylette cổ đã từng làm mưa làm gió tại thị trường xe máy Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.
Xe Mobylette cổ hay còn được biết đến với cái tên ngắn gọn hơn là xe Moby. Đây là một sản phẩm của hãng Motobecane đến từ nước Pháp vào nửa sau thế kỷ 20. Motobecane là một thương hiệu được thành lập bởi Charles Benoit và Abel Bardin. Cả hai trước đó đều làm chung trong nhà máy SICAM. Năm 1923 họ rời khởi và quyết tâm xây dựng nên Motobecane. Họ đã tạo những mẫu motocicleta đầu tiên đó là chiếc MB1 có xi-lanh đôi, dung tích 175cc.

Quay trở lại với mẫu xe Mobylette của chúng ta, ngay từ khi mới ra đời, những mẫu 50cc này đã được thiết kế khá tao nhã. Những mẫu xe này được ra mắt vào năm 1949 và nó tồn tại được trên thị trường gần nửa thế kỷ. Theo đó, nó bị dừng sản xuất vào năm 1997. Chỉ trong gần nửa thế kỷ đó, cụm từ “Mobylette” đã trở thành một định nghĩa chung trong tiếng Pháp chỉ về một dòng xe có một động cơ chạy bằng xăng có công suất nhỏ và một bàn đạp. Đây có thể coi là một thắng lợi lớn của hãng Motobecane.
Đến đầu những năm 60, mẫu xe này đã được cấp giấy phép sản xuất tại Tây Ban Nha và nó nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường xe máy nơi đây.
Theo tìm hiểu, những năm 1970 là những năm được coi là đỉnh cao dòng xe này khi số lượng sản xuất lên tới hơn 14 triệu xe. Được biết, năm 1978, Walter Muma, một người Canada, đã quyết định đi 11.500 dặm (khoảng 18.500 km) từ Toronto đến Alaska và quay trở lại Toronto trên chiếc 50V. Chuyến du lịch này của ông đã diễn ra trong vòng 3 tháng. Điều này đã chứng minh được sự bền bỉ của chiếc 50V của thương hiệu Motobecane.

Mẫu xe này cũng đã được cấp phép sản xuất tại Ấn Độ bởi Mopeds India Ltd dưới cái tên hoàn toàn khác là Suvega. Mẫu xe này được sản xuất tại Ấn Độ từ năm 1965 đến cuối những năm 1980. Được biết, thương hiệu Mopeds India Ltd đã có một đội đua riêng và đạt được nhiều thành công trong những cuộc đua dành cho xe 50cc – Sholavaram.
Đến năm 1981, do không đảm bảo được tiêu chuẩn khí thải, doanh số bán hàng của Mobylette đã giảm thậm tệ đến nỗi Motobecane đã phải ngừng sản xuất Mobylette. Motobecane sau đó đã nhượng lại quyền sản xuất cho hãng xe nổi tiếng của Nhật Bản là Yamaha. Năm 1984, mẫu xe này có một cái tên mới là MBK. Tuy nhiên, dù được thay chủ nhưng tình hình sản xuất của Mobylette cũng không mấy khả quan. Đến năm 1997 thì mẫu xe được ngừng sản xuất hoàn toàn.
Mobylette du nhập vào Việt Nam từ những năm 60 – 70, chủ yếu là miền Nam. Mẫu xe này gắn liền với đời sống dân thành thị nhiều nhất là năm 1975.
Có một hiểu lầm khá phổ biến đó là nhiều người cho rằng tất cả những dòng xe của Motobecane từ năm 1949 đến năm 1997 đều có tên Mobylette. Điều này hoàn toàn không đúng bởi có một vài mô hình không cái tên đó. Đặc biệt là vào thời kỳ bùng nổ của hãng vào những năm 1970. Những chiếc xe thời kỳ này thường sử dụng tên gồm tổ hợp số và chữ cái như 40TL, 40T, 40V hay 50V. Những tổ hợp này không chỉ là một cái tên mà nó còn là một quy ước cho động cơ, trang bị, tốc độ của những chiếc xe đó. Cụ thể, 40T là những phiên bản chạy chậm hơn, tốc độ tối đa chỉ có 25mph (khoảng 40km/h), đồng thời chúng không được trang bị hệ thống treo sau. Trong khi đó, dòng 50V thì lại có hệ thống treo cho cả trước và sau, trọng lượng nặng hơn và tốc độ tối đa có thể lên tới 30 – 35 mph (khoảng 48 – 56 km/h).
Đây là mô hình Mobylette đầu tiên của Motobecane được giới thiệu tại Salon de Paris vào năm 1949. Chiếc xe này được lấy cảm hứng từ mẫu xe đạp năm 1938 nhưng được lắp thêm động cơ “Poney” 49cc.

Loạt series 40V có một loại thay đổi khiến chiếc xe nhẹ hơn, giá rẻ hơn. Cụ thể, mặc dù không được tìm kiếm mua nhiều hơn dòng 50V nhưng dòng 40V vẫn khá phổ biến vì có khá nhiều người thích xe có trọng lượng nhẹ. Những chiếc 40V chỉ nặng khoảng 90 lbs mà thôi (khoảng 41 kg). Trong khi đó, 50V nặng 103 lbs (khoảng 47 kg).

Một vài dòng 40V có thể kể đến như:
Dòng 50 có lẽ là dòng có thiết kế tinh tế cùng được tìm kiếm nhiều nhất trong các dòng Mobylette của Motobecane.

Dòng AV89 là dòng xe được sản xuất những năm 1960. Chúng có thiết kế tương tự với dòng 50. Do lúc này dòng 50 đã thống trị tại thị trường Mỹ nên dòng AV89 được tìm thấy ở khu vực Châu Âu nhiều hơn khá nhiều.

Trên đây là những thông tin cơ bản về xe Mobylette cổ. Hy vọng những thông tin này đã giúp các bạn hiểu rõ hơn về dòng xe đã từng làm mưa làm gió tại thị trường Việt Nam nói riêng và thị trường xe máy thế giới nói chung.
Nhắc đến xe Lambretta cổ có lẽ không quá nhiều người cảm thấy mới lạ. Bởi lẽ, nó là một mẫu xe đã từng nổi đình nổi đám trên thị trường xe scooter cách đây hơn 70 năm.
Chiếc Lambretta đầu tiên được sản xuất vào năm 1947. Từ “Lambretta” được bắt nguồn từ tên con sông nhỏ ở Milan – Lambro. Được biết, dòng xe Lambretta ra đời do nhận được sự kích thích từ những chiếc xe scooter màu oliu Cushman đến từ nước Mỹ. Những chiếc Cushman này đã từng được chính phủ Ý nhập số lượng lớn nhằm phục vụ cho hải quân và lính nhảy dù. Có lẽ kinh phí để nhập những mẫu xe này đã là động lực để nước Ý tự sáng chế ra mẫu xe scooter của riêng mình.
Lúc này, tướng Corradino D’Ascanio, kỹ sư hàng không, đã nhận được lệnh từ Ferdinando Innocenti rằng phải tạo ra được một mẫu xe đơn giản, giá cả phải chăng và phải phù hợp với mọi người ở mọi giới tính cũng như độ tuổi.
Nhận được chỉ thị, D’Ascanio đã dựa trên mẫu xe Cushman mà thay đổi một vài chi tiết. Cụ thể, thiết kế của D’Ascanio được thiết kế trên một khung đòn, động cơ xe được gắn trực tiếp vào bánh sau, số ở tay cầm cũng đã được thay đổi. Khu vực để chân được thiết kế khá thoáng để nữ giới có thể ngồi được vì họ thường hay mặc váy.
Phần phuộc trước thì được thiết kế giống như thiết bị hạ cánh của máy bay để có thể đổi bánh dễ dàng hơn. Hệ thống truyền động không sử dụng sên xe để không xảy ra tình trạng dầu mỡ, bùn đất.
Tuy nhiên thiết kế này lại không được Innocenti đồng ý. Với sự bất đồng quan điểm này, D’Ascanio đã rời khỏi và đem mẫu thiết kế này đến cho Enrico Piaggio, người đã sản xuất ra mẫu Vespa có khung đòn từ những năm 1946.

Một năm sau, năm 1947, chiếc Lambretta đầu tiên đã ra đời. Phiên bản đời đầu này đã có những trang bị cơ bản như chỗ ngồi có nệm, khoang chứa đồ… Khối động cơ xe Lambretta sử dụng là động cơ 2 thì, dung tích từ 49 – 198cc và sử dụng hộp số 3 hoặc 4 cấp. Phần khung xe sử dụng khung ống cứng hơn so với khung sườn đơn từ thép của những dòng xe Vespa cổ.
Sau đó, Lambretta cũng được sản xuất tại nhiều nước như Brazil, Argentina, Ấn Độ, Chile và Tây Ban Nha. Tuy nhiên, ở mỗi nước khác nhau sẽ có một cái tên khác nhau. Ví dụ như ở Tây Ban Nha nó có tên là Serveta hay ở Nam Mỹ nó có tên là Siambretta.
Đến năm 1960, do xe hơi cỡ nhỏ phổ biến hơn nên nhu cầu dành cho scooter này bị sụt giảm khá nhiều. Điều này đã khiến vấn đề tài chính của Lambretta gặp phải vấn đề nghiêm trọng. Cuối cùng Lambretta đã được bán cho British Leyland Motor Corporation (BLMC). Tuy nhiên do thiếu tầm nhìn xa nên doanh số bán hàng Lambretta đã xuống dốc. Lambretta đã bị đóng cửa vào năm 1972. Từ năm 1972 trở đi, Lambretta đã thuộc quyền sở hữu của Scooter India Ltd (SIL).
Mặc dù thuộc quyền sở hữu của SIL nhưng tại ngôi làng nhỏ Rodano ở gần Milan vẫn có một viện bảo tàng lưu trữ những hiện vật của Innocenti và Lambretta. Không những vậy, các câu lạc bộ Lambretta tại Anh và Châu Âu vẫn còn tồn tại. Những mẫu xe Lambretta cổ được bán với khá cao. Ví dụ như mẫu LI 150 series 2 được bán với giá 5.950 USD (khoảng 138 triệu đồng). Mẫu xe cổ hơn như TV200 thì có giá bán tới 23.750 USD (khoảng 550 triệu đồng)

Lambretta 125M hay còn được biết đến với cái tên Model A. Mẫu đời đầu này chưa từng được xuất khẩu sang các nước khác. Mẫu này sử dụng khối động cơ 125cc, hộp số 3 cấp cùng lẫy chuyển số bằng chân. Khối động cơ này được làm mát bằng không khí. Để có thể “đụng chạm” được khối động cơ này thì các bạn chỉ việc tháo 2 bu lông khỏi hộp công cụ và yên xe.
Mẫu xe này không có hệ thống phuộc sau. Phuộc trước lại chỉ là một khối cao su chống rung. Phần tay lái thì được thiết kế dạng ngược giống nhiều mẫu xe hiện nay. Các dây cáp được nối với van tiết lưu dạng hình xoắn ốc.
Bánh xe có 3 lỗ để kết nối với vành trên trục có kích thước là 3.5 x 7 inch. Vì vậy, mỗi khi muốn tháo bánh ra để thay bánh khác, người dùng sẽ phải xì hết hơi trong bánh. Điều này khá là bất tiện.
Tuy nhiên, thay vào đó, chiếc xe này lại có khá nhiều chi tiết được mạ crom cùng màu xe tươi sáng nên đã khiến mẫu Lambretta được nhiều người đón nhận.

Rút kinh nghiệm từ Model A, Innocenti đã cho ra mắt Model B với nhiều cải tiến hơn. Nhìn thoáng qua thì chiếc xe này trông khá giống với Model A nhưng phần động cơ đã có chút thay đổi. Cụ thể, ở động cơ đã có khớp nối với hệ thống treo lò xo khiến xe êm ái hơn. Về phần dây cáp thì đã được thiết kế chạy dọc phía bên ngoài tay lái để có thể dễ dàng điều chỉnh và sửa chữa.
Bánh xe cũng đã được nâng kích thước lên từ 3.5 x 7 inch thành 3.5 x 8 inch khiến việc di chuyển mượt mà hơn. Chỗ để chân có phần lớp lót được làm bằng thép. Các phụ kiện đi kèm xe gồm yên ghế sau, hộp dụng cụ.

Đây được coi là mẫu xe mở ra một kỷ nguyên mới cho xe scooter bởi nó sử dụng bộ khung nền tảng cho những mẫu xe khác. Cụ thể, khác hai phiên bản đàn anh, mẫu 125C sử dụng khung thép hình ống. Về hệ thống treo cùng động cơ thì trang bị giống với Model B nhưng có một vài thay đổi nhỏ. Theo đó, Model B sử dụng chắn bùn để hỗ trợ bánh trước thì Model C lại sử dụng dĩa cùng lò xo riêng biệt cho các dĩa. Chính trang bị này đã khiến xe hoạt động êm ái hơn. Kích thước lốp cũng được tăng lên từ 3.5 x 8 inch thành 4 x 8 inch khiến việc vào cua dễ dàng hơn và bám đường hơn.

Model 125D Series II là mẫu xe có những sự cải tiến rõ rệt về hệ thống phanh. Cụ thể, phanh sau được điều khiển bằng cáp. Các chi tiết khác vẫn giữ nguyên giống như các đàn anh. Theo đó, xe vẫn sử dụng hệ thống bánh răng Teleflex và động cơ được làm mát bằng không khí.

Đây là một phiên bản khá phổ biến tại nước Anh. Do có dung tích lớn hơn nên giá của chiếc 150 LD đắt hơn so với dòng 125 LD. Tỷ lệ thuận với đó là mạnh mẽ hơn và chở được nặng hơn. Mẫu xe này cũng là một cuộc cải cách hoàn toàn cho dòng Lambretta bởi nó có thiết kế bao bọc lấy những chi tiết bên trong chứ không để lộ khiến những chi tiết được bảo quản tốt hơn. Một điểm nổi bật của phiên bản này đó là trên xe đã bắt đầu gắn logo thương hiệu với hai màu xanh trắng, số “150” thì được làm bằng vàng. Những dây cáp thì đã được bọc bởi một lớp cao su màu xám.

Sau sự cố với phiên bản TV Series I, mẫu TV 175 Series II đã sử dụng động cơ của LI nhưng nâng dung tích lên thành 175cc cho công suất lên tới 70 dặm/giờ (khoảng 113 km/h). Tỷ lệ thùng, piston, trục khuỷu và hộp số cũng đã được thay đổi. Phuộc trước thì được trang bị thêm giảm xóc bên ngoài nhằm tăng thêm sức mạnh. Logo Lambretta TV 175 được mạ đồng thau và gắn trên thân xe bằng những con ốc chứ không phải dán như trước.
Trên đây là một vài thông tin về xe Lambretta cổ như lịch sử phát triển và một vài mẫu xe. Với những thông tin này, chắc hẳn các bạn đã có một cái nhìn tổng quan và hiểu hơn về dòng xe đã từng nổi đình nổi đám trên thị trường xe.
Với thiết kế đậm chất Châu Âu, luôn mang lại sự sang trọng, lịch lãm cho người lái, những chiếc Vespa cổ vẫn luôn được nhiều người săn đón. Cùng tìm hiểu rõ hơn về dòng xe này qua những chia sẻ dưới đây nhé.
Hiện nay, khi mà xu hướng các dòng chơi xe cổ trở nên phổ biến, những chiếc xe Vespa cổ lại được gọi tên. Những con xe này đã từng chiếm giữ một thời kỳ hoàng kim và cho đến nay, vẫn là đam mê của rất nhiều người.
Và tất nhiên, để có được một huyền thoại bất tận như vậy, Vespa cũng đã trải qua rất nhiều “thăng trầm”. Cùng tìm hiểu các cột mốc lịch sử của nó để trở thành một “dân Vespa chính hiệu” nhé.

Năm 1946, chiếc Vespa đầu tiên được ra mắt với tên gọi Vespa 98 và nhanh chóng tạo được tiếng vang lớn với giới truyền thông. Vào năm tiếp theo, chiếc Vespa 98 Corsa Circuito được tung ra cùng với phiên bản đời thứ 2 của Vespa 98.
Tiếp nối sự thành công, Piaggio nâng cao sự nhận diện bằng sự ra mắt của một loạt các mẫu Vespa cổ ấn tượng khác vào các năm, cụ thể:

Bước vào thế kỷ 21 là sự ra đời của những cái tên đình đám như: Vespa Ferrari ET4 150, Vespa LX, Vespa GTS 250 IE, Vespa S50 – LX50 4V, Vespa 946 Armani,…
Đây là một trong những dòng Vespa đời đầu và đã ngừng sản xuất. Đặc biệt, tại Việt Nam, Acma là đời Vespa xuất hiện đầu tiên. Vẻ đẹp tồn tại mãi với thời gian cùng số lượng khan hiếm, Acma được xem là hàng hiếm và là ước mơ của nhiều người mê Vespa cổ.

Nổi bật là dòng Acma GS – xe đua, bởi kiểu dáng của nó có nhiều sự khác biệt so với Acma thông thường. Phong cách hơi hướng thể thao nhưng vẫn cực kỳ lịch lãm. Xe có 3 số, dưới yên trước có một cửa sổ, mở ra sẽ thấy bình xăng rất độc đáo.
Được sản xuất trong giai đoạn năm 1958 – 1963, dòng Vespa Standard có nhiều giá trị lịch sử đối với hãng Piaggio.
Cụ thể, nó là nước ngoặt của hãng khi chuyển từ kiểu động cơ Piston -Ported của Acma sang kiểu động cơ rotary valve, ưu việt hơn. Bên cạnh những thiết kế mềm mại, hiện đại, dòng Standard cũng có nhiều cải tiến như 4 số, hệ thống phanh 2 cọc.

Mang trên mình nhiều đặc điểm “tinh túy”, Vespa Standard không chỉ là mẫu xe ưng ý của Piaggio trong quá khứ mà còn là niềm tự hào khi thời đại Vespa cổ lên ngôi.
Ra đời năm 1966 và đang là dòng xe Vespa cổ nhận được nhiều sự yêu thích tại Việt Nam. Thiết kế có sự tinh chỉnh từ tròn sang vuông ở nhiều chi tiết, cụ thể là cốp, vè hay đầu xe. Có lẽ vì vậy mà nó còn có tên gọi khác là “siêu ong”

Sự thay về thiết kế giúp dòng góc cạnh và cá tính hơn. Đồng thời, phần máy bên trong cũng được cải tiến giúp xe vận hành tốt hơn.
Mẫu Vespa này được tung ra thị trường năm 1967 và đã gặt hái được rất nhiều thành công lớn.

Đối với chiếc Vespa cổ này, thiết kế “hao hao” những mẫu Vespa thời hiện đại với bộ khung dài với những đường cong mềm mại. Ngoài ra, xe còn có ưu điểm khi dễ điều khiển, lướt êm và năng động. Vì vậy, ngày càng nhiều người săn lùng Vespa 125 Primavera.
Không chỉ đơn giản là một trào lưu, việc chơi Vespa cổ chính làm đam mê, là thể hiện cá tính riêng. Thế nhưng, đồ cổ thì thường “khó nhai”, và việc chơi Vespa cũng có một số trục trặc. Do đó, nếu bạn biết cách “bắt bệnh” “con ong” của mình thì sẽ tốt hơn nhiều.

Trước hết hãy nói về các hư hỏng liên quan đến bugi. Bởi chúng rất dễ đột nhiên không nổ máy, và các dân chơi Vespa cũng thường xuyên nói “chắc lại tại bugi”. Do đó, bạn nên học cách nhìn màu sắc bugi để đoán bệnh, cụ thể:
Ngoài ra, cũng cần quan sát xem đầu điện cực liệu có bị gãy hay chỗ sứ cách điện bị nứt. Sau đó, tiến hành sửa chữa cho phù hợp với “bệnh”, đồng thời làm sạch bugi.

Tiếp theo, một sự cố cũng rất thường gặp ở Vespa cổ làm người lái khó chịu đó là đứt dây ga, dây thắng. Bởi thiết kế của dòng xe này khá đặc biệt, dây côn và dây ga rất dài và phải chịu lực khá lớn nên dễ đứt. Bên cạnh đó, chỉ đồ “đặc chủng” của Vespa mới thay thế được.
Do đó, để an toàn, bạn nên có sự chuẩn bị cẩn thận bằng cách luôn mang theo những sợi dây này bên mình.
Không chỉ riêng việc mua Vespa cổ, khi mua bất kỳ dòng xe nào cũng cần đáp ứng tốt khả năng tài chính. Hiện tại, tùy thuộc vào độ zin, tình trạng mà xe sẽ có các mức giá khác nhau. Và chi phí tham khảo để mua một dòng cổ Vespa dao động trong khoảng 16 – 30 triệu đồng.

Và lời khuyên cho bạn là đừng ham những chiếc xe quá rẻ, vì nếu mua phải những mẫu “cùi bắp” hay có tuổi thọ cao thì việc hỏng hóc là rất dễ xảy ra.
Tiếp theo, là cần lựa chọn một địa chỉ uy tín và chất lượng, tất nhiên để giảm thiểu những sự cố không đáng có. Tuy nhiên, điều này trên thực tế không phải là dễ, bởi số lượng Vespa cổ đã ít nên việc người bán cũng không nhiều. Vậy nên, việc tìm thấy người bán các mẫu xe này thôi cũng đã khó.

Nếu bạn có “tình yêu” với dòng xe này và cũng đang tìm kiếm thì hãy tìm thử trên Okxe, một ứng dụng mua bán xe máy trực tuyến cực uy tín.
Cuối cùng, đừng quên quan sát tổng quát toàn bộ khung xe, sườn xe, thân xe, phần cốp, bình xăng,… đừng bỏ qua chi tiết nào. Nếu có thể, hãy cẩn thận kiểm tra động cơ và chạy thử để có cảm nhận thực tế.
Không phải tự dưng mà những mẫu Vespa lại một lần nữa “lên ngôi”. Những thiết kế lịch lãm và những cảm giác mà Vespa cổ mang lại khiến nhiều người phải mơ ước.
Bài viết trên là một số thông tin của dòng xe cổ này, hy vọng nó thú vị với các bạn đọc nhé.